Chế độ ăn đủ chất cho thai, mẹ không thừa cân

Chế độ ăn uống làm sao cho đủ chất phát triển của thai nhi, đồng thời giúp các mẹ bầu không bị thừa cân. Suốt thai kỳ, mẹ bầu chỉ nên tăng từ 11kg đến 14kg.

Mang thai là hiện tượng sinh lý bình thường của hầu hết chị em phụ nữ nhưng đi kèm với đó, nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn này sẽ tăng rất cao. Những gì bạn ăn trong 9 tháng mang thai là vô cùng quan trọng vì những dưỡng chất đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Chính vì thế, các chuyên gia luôn luôn khuyên mẹ bầu cần có chế độ ăn uống lành mạnh, giàu dưỡng chất để tăng cân đạt chuẩn và thai nhi phát triển tốt nhất.

Trọng lượng chuẩn khi bầu bí
Để thai nhi phát triển khỏe mạnh, bà bầu cần bổ sung thêm khoảng 300calo mỗi ngày đối với phụ nữ hoạt động bình thường và cao hơn một chút với những người phải vận động nhiều. Ngoài calo, phụ nữ mang thai cần bổ sung thêm khoảng 50% các loại vitamin và khoáng chất. Đồng thời cần thêm 10gr protein mỗi ngày để hỗ trợ sự phát triển của thai nhi, nhau thai và dịch tế bào ở người mẹ.

Lượng calo bổ sung mỗi ngày này phải đủ để mẹ bầu đạt mức cân nặng chuẩn là 11-13kg trong suốt thai kỳ. Nếu trước khi bầu bí, bạn chỉ khoản 40-42kg thì thời gian này cần tăng từ 14-16kg.

Thông thường, trong quý đầu mang thai, chị em chỉ nên tăng khoảng 1-2 kg. Từ tháng thứ 4 thai kỳ, mỗi tuần tăng khoảng 0,3-0,5kg là đủ. Sự tăng cân đều của người mẹ là dấu hiệu cho biết bạn đang có chế độ ăn uống đầy đủ dưỡng chất và khoa học.


Suốt thai kỳ, chị em chỉ nên tăng từ 11-14kg.

Bạn đang thắc mắc, trọng lượng tăng lên đó được phân bổ thế nào? Xin chia sẻ với các mẹ:
Thai nhi: 3,2–3,6 kg
Nhau thai: 0,45-0,9 kg
Tử cung: 0,9 kg
Nước ối: 0,7-0,9 kg
Ngực mẹ bầu: 0,5 kg
Khối lượng máu: 1,2-1,4 kg
Chất béo: 2,3 kg
Mô, chất lỏng: 1,8-3,2 kg


Tổng cân nặng: 11-14 kg
Các mẹ bầu cần lưu ý, nếu bạn quá ít cân hoặc đang trong tình trạng suy dinh dưỡng, cần đi khám dinh dưỡng ngay để nhận được lời khuyên từ các chuyên gia. Các mẹ cũng cần chú ý đến những bệnh có thể gặp trong thai kỳ như cao huyết áp, tiểu đường, tiền sản giật… Nếu bạn đang thừa cân thì cần quan tâm hơn đến những bệnh kể trên. Tăng cân quá nhiều trong thai kỳ sẽ gây ra những vấn đề bất lợi cho cả hai mẹ con.

Bổ sung vitamin và khoáng chất
Những vitamin được khuyến khích sử dụng trong quá trình mang thai bao gồm: axit folic, vitamin B-6, C, D, canxi, đồng, sắt và kẽm.
Những vitamin được khuyến khích sử dụng trong quá trình mang thai bao gồm: axit folic, vitamin B-6, C, D, canxi, đồng, sắt và kẽm. 

Axit folic được gọi là “siêu” vitamin vì nó rất có lợi cho sự phát triển của não và hệ thần kinh của thai nhi. Ngoài ra, axit folic còn rất quan trọng để tạo hồng cầu (hình thành tế bào máu đỏ). Mức tiêu thụ dưỡng chất này là 600-800mg mỗi ngày. Nếu có thể hãy bổ sung axit folic ngay từ trước khi mang bầu. Cùng với việc uống viên nang bổ sung axit folic, mẹ bầu nên chú trọng đến những thực phẩm giàu dưỡng chất này như ra lá xanh đạm, ngũ cốc, gan, đậu Hà lan, bơ đậu phộng và măng tây.

Sắt: Mẹ bầu cũng cần bổ sung thêm sắt vì sắt rất quan trọng trong việc cung cấp máu cho cơ thể của bạn và em bé. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mẹ bầu cần bổ sung thêm 30-60mg sắt mỗi ngày. Những nguồn thực phẩm dồi dào sắt bao gồm rau bina, rua lá xanh đậm, cá mòi, hoa quả sấy khô.
Canxi: Canxi rất cần thiết cho sự phát triển của xương và răng em bé. Sữa là nguồn thực phẩm dồi dào dưỡng chất này, vì vậy bà bầu nên uống từ 2-3 ly sữa mỗi ngày. Ngoài ra, bạn có thể ăn thêm phô mai, sữa chua và phomat tiệt trùng. Nếu không bổ sung đủ canxi, cơ thể sẽ tự động lấy canxi từ xương của mẹ bầu để đảm bảo cho sự phát triển của thai nhi. Mức tiêu thụ canxi mỗi ngày khi mang bầu là khoảng 1.200mg.
Bà bầu cần ăn đủ 4 nhóm thực phẩm cơ bản. 

Chế độ ăn hoàn hảo cho mẹ bầu
Một chế độ ăn uống cân bằng, có lợi cho việc mang thai cần chứa 4 nhóm thực phẩm chính sau:

Chất đạm: bao gồm thịt, cá, gia cầm, trứng: Mỗi bữa ăn mẹ bầu cần đảm bảo phải ăn một lượng những thực phẩm trên (khoảng 100gam). Ngoài ra, các mẹ cũng cần ăn thêm các sản phẩm từ đậu, hạnh nhân, hạt điều…

Sữa: uống đủ 2-3 ly sữa mỗi ngày và ăn kèm thêm sữa chua, phô mai.

Rau quả: Nhóm này được chia thành 2 loại chính là thực phẩm chứa vitamin C và thực phẩm chứa beta carotene (có thể được chuyển đổi thành vitamin A khi cơ thể cần).
Những loại rau được khuyến khích cho bà bầu là: trái cây các loại, súp lơ, đu đủ chín, dưa hấu, rau bina, bông cải xanh…

Tinh bột: bao gồm cơm, ngũ cốc, bánh mì, đậu Hà Lan. Với nhóm thực phẩm này, mẹ bầu không nên bổ sung quá nhiều để tránh tăng cân mất kiểm soát. 
Xem chi tiết

Chế độ dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai

Chế độ dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai đến hết 9 tháng 10 ngày. Trong khoảng thời gian này, cần phải bổ sung dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai đầy đủ và khoa học. Việc bổ sung đẩy đủ dinh dưỡng sẽ đảm bảo sức khỏe bà bầu và sự phát triển toàn diện của trẻ trong bụng cho đến khi sinh ra.

Dưới đây là chế độ dinh dưỡng cho phụ nữ trong toàn kỳ mang thai:

Mang thai tháng đầu

Trong tháng đầu tiên mang thai, bà bầu thường có cảm giác mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, vì thế bạn cần chú ý bổ sung chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn nhiều loại thức ăn có chứa protein, sắt như thịt bò, thịt lợn, cá,..

Tháng thứ hai

Thời gian này, cơ thể thai phụ có nhiều thay đổi như: dừng vòng kinh, đau đầu, chóng mặt, hoặc kèm theo nôn nhiều, núm vú và những vùng xung quanh hơi có cảm giác đau. Nếu bạn nghén thì nên tranh thủ nghỉ ngơi nhiều hơn và cũng đừng quá lo lắng khi bạn chưa uống được sữa bà bầu vì giai đoạn này chưa cần quá nhiều dưỡng chất để nuôi thai nhi. Bạn có thể bổ sung các dưỡng chất bằng cách ăn nhiều hoa quả.

Thai phụ nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: bánh mỳ, cháo, nước hoa quả, mật ong…

Tháng thứ ba

Tháng thứ ba thích hợp với việc ăn canh gà trống và ăn nhiều các loại thịt, cá, trứng và các loại đậu.

Tháng thứ tư

Thai phụ nên ăn làm nhiều bữa. Và lưu ý không nên nhai lệch về một bên hàm và nhai kĩ rồi mới nuốt. Không nên ăn những loại thức ăn chứa các chất kích thích như: rượu, bia... và không hút thuốc lá. Nên ăn những loại thức ăn có chứa nhiều vitamin.

- Vitamin A: Có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật. Các loại rau quả có màu đậm (như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ...) có nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A.
- Vitamin B1: Có nhiều trong ngũ cốc và các loại đậu (hạt) như gạo, bột mì, bột đậu xanh...
- Vitamin B2: Hạt ngũ cốc toàn phần, thức ăn có nguồn gốc động vật.
- Vitamin B6: có nhiều trong gan bê, ruốc thịt, thịt gà, ngô...
- Vitamin B9: (hay còn gọi là axit folic) có nhiều trong măng tây, rau xanh, gan, thịt gà, trứng.
- Vitamin PP: Lạc, vừng, đậu các loại, rau ngót, giá đậu xanh, cải xanh, rau dền đỏ, rau bí, thịt, cá, tôm, cua, ếch.
- Vitamin B12: Pho mát làm từ thịt dê và thịt cừu, cá, quả hạnh nhân, cải xoong, dưa bắp cải, sữa tươi, sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành, nước khoáng...
- Vitamin C: Rau xanh (rau muống, rau ngót, bắp cải, cải xoong), quả chín (cam, chanh, bưởi, xoài, ổi...), khoai tây, khoai lang, củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi, ...
- Vitamin D: Dầu gan cá, cá, gan, lòng đỏ trứng, thịt lợn, chất béo của sữa. - Vitamin E: Các loại dầu (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu cọ...), rau dền, giá đậu, quả mơ, quả đào, gạo, ngô, lúa mì.
Tháng thứ năm

Thai ở tháng thứ 5, não bắt đầu phát triển nhanh, vì thế nếu thai phụ ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho sự phát triển não của thai nhi. Ví dụ: ăn nhiều thịt sẽ khiến cơ thể có nhiều axít, làm cho não của thai nhi không linh hoạt; ăn quá nhiều đường trắng không có lợi cho việc phát triển tế bào ở đại não; nên lựa chọn những loại thức ăn thô như: bột mỳ, bột gạo.

Tháng thứ sáu

Thai phụ cần đề phòng thiếu canxi và sắt: Ở tháng thứ 6, thai nhi sinh trưởng rất nhanh, vì thế trong chế độ ăn uống nên có nhiều lòng trắng trứng gà, bổ sung các chất khoáng cũng như vitamin. Khi đó lượng canxi của người mẹ được thai nhi hấp thụ rất nhiều, rất dễ bị thiếu. Nếu lượng canxi không đủ thì sau này đứa trẻ sinh ra rất dễ bị loãng xương, đau răng hoặc viêm lợi và thai nhi cũng dễ bị gù lưng bẩm sinh. Trong quá trình dưỡng thai, bà bầu chú ý phải cung cấp lượng canxi vừa đủ.

Phụ nữ mang thai 5 - 6 tháng cũng rất dễ phát sinh bệnh thiếu máu, vì lượng máu và sắt cần cho thai nhi sẽ tăng lên gấp đôi. Ngoài ra, cơ thể người mẹ lại thêm dịch vị nên cũng ảnh hưởng đến việc hấp thụ lượng sắt trong cơ thể. Thiếu sắt đối với phụ nữ mang thai hay thai nhi đều rất nguy hiểm, làm cho thai nhi sinh trưởng chậm… Vì vậy, người mẹ mang thai cần hấp thụ một lượng sắt cần thiết.

Trong các loại rau như: cải trắng, hồng tây, khoai tây, các loại đậu chế biến đều chứa nhiều chất sắt, canxi và vitamin, đặc biệt ăn nhiều thịt nạc, thịt gia cầm, gan và tiết động vật cùng các loại trứng, hạt vừng, bột, hoa quả… Các loại thực phẩm này có nhiều chất sắt, vitamin C, rất có lợi cho sự bổ sung chất sắt trong cơ thể người mẹ và thai nhi. Chỉ cần trong khi ăn uống, người mẹ có ý thức tăng cường hàm lượng chất sắt, canxi thì có thể dự phòng được bệnh thiếu các chất canxi, sắt.

Phụ nữ mang thai nên tránh ăn quá nhiều dầu béo, chất muối để tránh bệnh phù chân, cao huyết áp và các bệnh về tim mạch.

Tháng thứ bảy

- Tăng cường ăn đồ ăn nóng: Nói chung, thức ăn chủ yếu của thai phụ phải nóng, thức ăn cần đa dạng, nhiều gạo, ngũ cốc… đậu đỏ, đậu xanh, các loại hương liệu phối hợp. Nhưng liều lượng nên vừa đủ, tránh cho thai phị bị béo phì, thai nhi quá to.

- Ăn nhiều chất có chứa hàm lượng sắt nhiều: Sắt là chất rất cần thiết cho mạch máu, các vật chất để ăn có hàm lượng sắt nhiều như: máu động vật, gan, thịt nạc, các loại cá, các loại đậu, các loại rau củ quả…

- Chú ý các chất: như canxi, phốt pho, I-ốt, kẽm trong rong biển, tảo đỏ, sứa, đậu tương, đậu phụ, rau cải, mộc nhĩ đen, lạc, trứng gà, lòng đỏ trứng, xương đầu động vật, thịt nạc, gan động vật cùng các loại cá, tép moi, trai biển… - Tăng cường các loại vitamin như A, B, B1, B2, C, E, D…

- Đảm bảo cung cấp đủ lượng mỡ: Dầu động thực vật đều tích chứa hàm lượng mỡ rất phong phú. Thông thường, khi nấu ăn chủ yếu nên dùng dầu thực vật, như dầu đậu nành, dầu lạc, dầu vừng, dầu rau cải… cũng có thể dùng một ít dầu động vật, cũng như trực tiếp ăn lạc, vừng…

- Tăng cường ăn uống nhưng nên thích hợp: Phụ nữ mang thai mỗi ngày nên ăn từ 4 - 5 lần, nhưng mỗi lần ăn không nên ăn quá no, giúp cho việc hấp thụ dinh dưỡng trong cơ thể dễ dàng hơn và bụng không phải mang theo lượng thức ăn quá lớn gây mệt nhọc.

Tháng thứ tám

- Nên ăn làm nhiều bữa và ăn với lượng vừa phải để giảm cảm giác dạ dày bị trướng đầy.

- Nếu mỗi tuần, thể trọng thai phụ tăng khoảng 500 gam thì nên ăn nhiều rau xanh và nên hạn chế ăn các đồ ngọt, chứa đường, mỡ để phòng thai nhi quá to, gây khó khăn cho việc sinh nở.

- Chọn món ăn có trị dinh dưỡng cao như: thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, tránh ăn đậu nành, khoai hồng để phòng dạ dày bị chướng.

- Không nên lạm dụng chất bổ như: dầu gan cá, vitamin, nhân sâm…

Khẩu phần ăn hàng ngày nên có các loại thực phẩm sau: gạo, ngũ cốc và các lương thực khác; trứng các loại (gà, vịt, chim cút), thịt bò, các loại thịt khác và cá, gan động vật (mỗi tuần ăn một lần), các loại đậu, rau, hoa quả, dầu chưng cất.

Tháng thứ chín

Lúc này, thai phụ nên ăn thêm nhiều dinh dưỡng, chất lượng tốt, vẫn lấy nguyên tắc mỗi lần ăn không cần ăn nhiều, nhưng ăn thành nhiều bữa. Mỗi ngày 5 bữa trở lên. Nên chọn loại thức ăn có khối lượng nhỏ mà chất dinh dưỡng lại cao như các loại thức ăn có nguồn gốc từ động vật, giảm thiểu các loại thức ăn có khối lượng lớn, nhưng dinh dưỡng lại thấp như đậu nành…

- Lòng trắng trứng: Trong suốt quá trình mang thai đều cần tăng cường chất lòng trắng trứng, một số chất này chủ yếu từ chế phẩm đậu, từ sữa, trứng và thịt.

- Không ăn nhiều muối: Cuối giai đoạn mang thai dễ phát sinh các chứng bệnh cao huyết áp, do đó nên hạn chế ăn muối. Phụ nữ mang thai nên chú ý ăn chất có sắt, lượng máu đủ để sinh con và để tích chữ lượng sắt cho thai nhi.

- Vitamin: Các vitamin chủ yếu từ ăn các loại rau tươi xanh và hoa quả. Vitamin A có thể tăng sức đề kháng bị nhiễm bệnh của người mẹ mang thai. Vitamin D có thể giúp cho quá trình hấp thụ canxi được dễ dàng hơn.

- Chú ý ăn nhiều các thức ăn thanh đạm: Dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn, ăn ít các món ăn chính, ăn nhiều các món ăn phụ như rau, hoa quả, các chế phẩm sữa. Ăn uống thanh đạm là tiêu chuẩn cho người mẹ mang thai ở thời điểm cuối này.

- Phụ nữ mang thai giai đoạn cuối này nên ăn nhiều, nhưng mỗi lần ăn không nên no quá và ăn các thức ăn có hàm lượng mỡ chua và chất kẽm như: hạt hồ đào, hướng dương, vừng đen, lạc; hàm lượng thức ăn có chất sắt, vitamin B2 như: các loại gan, lòng đỏ trứng, mộc nhĩ đen, cải tía, rong biển, chế phẩm từ đậu, cải xanh. Hàm lượng thức ăn có canxi cùng vitamin D như: sữa bột, gan, tôm, canh cá, canh đầu cá, các chế phẩm đậu phụ. Ăn nhiều sữa bột và hoa quả sẽ tốt cho da của cả người mẹ và trẻ nhỏ.

Xem chi tiết

Những loại thực phẩm vàng cho thời kỳ mang thai

Mang thai rồi sinh con không chỉ có niềm vui mà còn có cả nỗi thấp thỏm lo âu. Để tăng cường sức khỏe trong giai đoạn mang thai và nuôi con các chuyên gia mới đây giới thiệu 12 loại thực phẩm được xem là tốt ưu cho nhóm người này. 

1. Cá hồi

Phải nói ngay rằng không có thứ thực phẩm nào hoàn hảo cả nhưng cá hồi đã được khoa học xếp đầu bảng về dưỡng chất cho những người mang thai lần đầu, nhất là giai đoạn cho con bú. 
Lý do, cá hồi có chứa loại mỡ tốt DHA, có tác dụng giúp trẻ phát triển trí tuệ, thần kinh và sữa mẹ ở những người ăn uống cân bằng, khoa học sẽ có hàm lượng mỡ DHA cao. 

Ngoài ra, chính mỡ DHA còn giúp cho bản thân người mẹ cải thiện tâm tính, ngăn ngừa bệnh trầm cảm sau sinh. Tuy nhiên, theo Cơ quan quản lý Thực - Dược phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo chỉ nên ăn điều độ, nhất là cá có hàm lượng thủy ngân thấp hoặc các loại cá khác như cá kiếm, cá mackerel, cá ngói v.v... 

2. Các loại sản phẩm bơ sữa có hàm lượng mỡ thấp
Các loại sản phẩm bơ có hàm lượng mỡ thấp được xem là nguồn cung cấp protein, canxi, vitamin B và vitamin D rất tốt cho phụ nữ khi mang thai và nuôi con. 

Nó không chỉ tăng cường sức khỏe cho người mẹ mà còn tốt cho cả đứa trẻ tương lai. Mỗi ngày nên dùng 3 suất (mỗi suất tương đương một cốc nhỏ) 

3. Trứng

Lòng đỏ trứng là thực phẩm tự nhiên giàu vitamin D giúp cho xương cốt của người mẹ lẫn đứa trẻ cứng cáp. 
Trứng là thực phẩm thỏa mãn nhu cầu protein hàng ngày, nên ăn 2 quả vào bữa sáng nhưng nhớ phải chế biến kỹ, không nên ăn sống. 

Bên cạnh ăn trứng trực tiếp có thể dùng các chế phẩm trứng được tăng cường DHA để tăng nguồn axit béo trong nguồn sữa mẹ. 

4. Thịt bò nghèo

Thịt bò nghèo (lean beef) là nhóm thực phẩm có tác dụng tăng cường sinh lực, năng lượng bởi nó có hàm lượng sắt cao, ít mỡ. 
Sở dĩ những người phụ nữ mang thai sinh con thiếu sữa là do cơ thể sử dụng triệt để nguồn khoáng chất này cho việc phát triển của trẻ. 

Ngoài sắt, sau khi sinh phụ nữ còn cần nhiều tới vitamin B12 và thịt bò nghèo đích thực là thực phẩm đảm nhận tốt phần thiếu hụt nói trên.

5. Đậu đỗ các loại
Đậu đỗ các loại, nhất là các loại thực phẩm thẫm màu được xem là nguồn thực phẩm tốt nhất cho phụ nữ giai đoạn cho con bú, đặc biệt là nhóm người ăn chay, vì nó giàu sắt và nguồn protein phi động vật tốt nhất cho cơ thể con người. 

6. Quả việt quất
Quả việt quất (Blueberries) là loại thực phẩm rất hữu ích, nên uống 2 suất nước ép của loại quả này mỗi ngày vì nó có chứa hàm lượng chất chống ôxi hóa, các loại vitamin, khoáng chất giúp cơ thể hoạt động dẻo dai và không bị mệt mỏi. 

7. Gạo nâu Gạo nâu (Brown Rice)

hay còn gọi là gạo lức có tác dụng tốt trong việc giảm cân cho cả sản phụ lẫn trẻ sơ sinh mà không gây mệt mỏi vì đây là loại thực phẩm carbohydrate nguyên chất rất tốt, giúp cơ thể sản phụ sản xuất ra loại sữa có chất lượng cao, cả về calo lẫn vitamin, khoáng chất.

8. Cam
Cam là loại thực phẩm giàu dưỡng chất có tác dụng rất tốt trong việc cung cấp năng lượng cho những người phụ nữ sinh con. Theo nghiên cứu thì cơ thể những người vừa sinh có thể rất cần vitamin C. Theo đó cam chanh các loại, các loại quả chua là nguồn thực phẩm giàu chất bổ này. Ngoài ra có thể các loại nước ép hoa quả khác, nước đóng chai tăng cường canxi sẽ có lợi cho cơ thể. 

9. Bánh mỳ nguyên chất 
Sử dụng bánh mỳ nguyên chất khi mang thai, nhất là giai đoạn 3 tháng đầu sẽ có tác dụng tốt cho quá trình phát triển của trẻ. Đây là nhóm thực phẩm giàu các loại đạm hữu ích, chất xơ và sắt. 

10. Rau xanh dạng lá 
Rau dạng lá không chỉ tốt cho phụ nữ giai đoạn mang thai mà còn tốt cho tất cả mọi người, Bao gồm súp lơ, bắp cải, rau bina, cải xoăn v.v... Đây là nguồn cung cấp vitamin A cho trẻ thông qua nguồn sữa mẹ, nhất là nguồn vitamin C, sắt cũng như các chất chống ôxi hóa. Chưa hết, nhóm thực phẩm này còn có hàm lượng calo thấp, ngon miệng, dễ ăn và giúp cải thiện tâm tính. 

11. Các loại ngũ cốc nguyên chất
Lợi thế của nhóm thực phẩm này là nguồn cung cấp năng lượng giúp cơ thể ăn ngủ tốt. Nên ăn vào bữa sáng, dưới dạng nguyên chất hoặc tăng cường vitamin, dưỡng chất để thỏa mãn nhu cầu tiêu hao năng lượng mỗi ngày. 

12. Nước
Khát nước là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh nan y giai đoạn thai kỳ lẫn giai đoạn nuôi con vì vậy cung cấp đủ nước cho cơ thể sẽ làm giảm được rủi ro mắc bệnh. Nó có tác dụng giúp cơ thể sản xuất sữa, vì vậy mỗi ngày nên uống ít nhất 8 cốc, kể cả nước lọc, nước hoa quả, sữa, nước rau luộc, thịt hầm vv...nhưng nên tránh các loại nước có chứa caffein, chè, rượu, bia vì đây là đồ uống có thể làm cho cơ thể khát thêm hoặc làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất sữa của cơ thể.      
Xem chi tiết

Dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu sao cho đủ?

Cung cấp dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu như thế là đủ? Chế độ dinh dưỡng cho thời kỳ mang bầu 3 tháng đầu rất quan trọng cho trẻ sau sinh. Đây là thời kì các tế bào phân chia, nếu không có chế độ dinh dưỡng hợp lí có thể khiến thai nhi không được khỏe và gặp nhiều vấn đề không mong muốn như sảy thai, thai suy dinh dưỡng, đẻ non… 


Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu một cách hợp lí. Vừa đủ dinh dưỡng để cho mẹ bầu và thai nhi được khỏe mạnh ngay từ khi mới mang thai.


Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu


Lưu ý 1. Đối với những người khỏe mạnh, cân đối thì vào 3 tháng đầu chưa cần thiết ăn quá nhiều, vì thai nhi còn nhỏ, bà bầu chỉ nên ăn nhiều hơn bình thường một chút.

Lưu ý 2. Đối với những người vốn dĩ đã gầy yếu, chưa đủ cân, sức khỏe kém thì thời điểm này nên bổ sung dinh dưỡng để tăng cân, để chuẩn bị khi thai nhi lớn dần thì có đủ dinh dưỡng để nuôi thai nhi khỏe mạnh.

Lưu ý 3. Chế độ dinh dưỡng hợp lí:

- Cân đối dinh dưỡng giữa chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và các khoáng chất.

- Chất đạm có nhiều trong cá, tôm, cua, thịt, đậu đỗ…

- Chất đường bột: cơm, ngô, khoai, sắn…

- Chất béo: lạc, vừng, dầu, mỡ…

- Ngoài ra bổ sung thực phẩm giàu canxi như trứng, sữa, tôm, cua…

- Bổ sung thực phẩm giàu sắt: thịt bò, thịt lợn, mộc nhĩ, nấm hương…

- Uống 2 ly sữa mỗi ngày cũng cung cấp dinh dưỡng cao cho mẹ bầu và thai nhi.


Lưu ý 4. Thời điểm này mẹ bầu chỉ cần tăng 1-2kg là phù hợp, tránh tăng cân quá nhanh khiến mẹ bầu mắc bệnh béo phì và tim mạch…

Lưu ý 5. Nếu mẹ bầu bị ốm nghén, hoặc có thể ốm nghén khiến không ăn được thì vẫn phải cố gắng đảm bảo đủ dinh dưỡng trong giai đoạn này, có thể uống 1 ngụm nhỏ coca để giảm buồn nôn, nhưng không được lạm dụng vì coca có thể làm bạn bị đầy bụng nếu uống nhiều.

Lưu ý 6. Bữa ăn nên chia làm nhiều bữa để bà bầu hấp thụ dần dần: 6-8 bữa nhỏ mỗi ngày.


Các loại thực phẩm không thể thiếu trong 3 tháng đầu mang thai

 Trong 3 tháng đầu, thai phụ chỉ cần tăng 0,9 kg tới 2,3 kg. Riêng các mẹ đã béo phì thì không nên để tăng cân. Đây là giai đoạn cơ thể mẹ sẽ có những biến đổi sinh lý để thích nghi, đồng thời là thời gian quan trọng cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé. Vì vậy dù mẹ kém ăn nhưng cũng phải chú ý tăng thêm lượng chất đạm, nhất là những protein chất lượng cao dễ tiêu hóa, dễ hấp thu như: trứng, sữa các loại, các loại thịt gia cầm, cá và đậu…

Thai phụ cần lưu ý ăn đủ bữa trong ngày: 3 bữa chính + 3 bữa phụ.

Sau 3 tháng đầu thai kỳ người mẹ mới hết buồn nôn, ăn ngon miệng, thèm ăn vặt. Đây là giai đoạn mẹ dễ dàng tăng tốc để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cao hơn. Vì thế cơ thể mẹ cần thêm năng lượng, song không phải chỉ ăn nhiều hơn về số lượng, mà nên chú trọng những chất dinh dưỡng cần thiết như:

- Chất đạm (protein): Có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu đỗ… giúp phát triển các tế bào mô của thai (bao gồm cả tế bào não), giúp cho tuyến vú và mô tử cung của mẹ phát triển suốt thai kỳ, đồng thời tăng thể tích tuần hoàn của mẹ. Thai phụ cần bổ sung thêm 10-18g protein mỗi ngày (tương đương 50-100 gr thịt cá tùy loại, 100-180 gr đậu hũ, hay 1-2 ly sữa mỗi ngày).

- Chất sắt: Có nhiều trong thịt, gan, tim, cật, rau xanh và các loại hạt… giúp tăng thể tích máu và phòng ngừa thiếu máu. Nếu thai phụ thiếu máu sẽ làm giảm lực co bóp của tử cung khi chuyển dạ, giảm lượng sắt dự trữ của em bé trong 6 tháng đầu đời. Vì thế thai phụ cần bổ sung thêm ít nhất 15gr sắt mỗi ngày.

- Canxi: Có nhiều trong sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh, đậu đỗ… giúp hoạt động hệ thần kinh và đông máu bình thường cho mẹ, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé. Nếu thiếu canxi mẹ dễ bị vọp bẻ, đau nhức xương, bé có thể bị còi xương ngay trong bụng mẹ.

- Acid folic (vitamin B9): Giúp giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh cho trẻ, tật nứt đốt sống trong bào thai. Vitamin này có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh, cải bó xôi, ngũ cốc hoặc một số loại hạt như vừng, lạc… Ngoài ra acid folic còn có trong thịt gia cầm và nội tạng động vật như gan, tim...

- Vitamin D: Có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời. Ngay từ trong bào thai, bé cần phát triển hệ xương và hình thành mầm răng sữa, vì vậy ngoài việc bổ sung thực phẩm nhiều canxi, người mẹ phải kết hợp phơi nắng để tăng cường vitamin D giúp hấp thu canxi tối ưu. Thai phụ cần phơi nắng khoảng 15 phút mỗi ngày (tránh ánh nắng quá gay gắt), nên để ánh nắng chiếu trực tiếp vào cơ thể, không nên đeo găng tay, đi vớ và cũng không nên phơi nắng sau cửa kính.

- Vitamin C: Giúp hỗ trợ phát triển xương sụn, cơ và mạch máu cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc. Nó cũng là một chất chống oxy hóa giúp người mẹ tăng cường sức đề kháng. Vitamin C có trong các loại rau xanh, trái cây…
Xem chi tiết

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu kỳ mang thai

Chế độ dinh dưỡng cho bà bầu rất quan trọng đến sự phát triển của bé sau này. Mỗi giai đoạn của thai kỳ lại cần một chế độ dinh dưỡng các nhau. Các bà bầu có thể tham khảo thông tin khoa học về dinh dưỡng trong thai kỳ để chuẩn bị hoàn hảo nhất cho sự ra đời của bé yêu khỏe mạnh.

Khi mang thai thì phụ nữ phải ăn cho hai người nên cần tăng lượng thực phẩm.Có nhiều người tin như vậy mặc dù quan điểm này đã lỗi thời từ lâu.Thực ra, các bằng chứng khoa học đã chứng minh rằng không nên tăng số lượng thực phẩm mà cần cải thiện về mặt chất lượng, đặc biệt là các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm.

Các chuyên gia người Úc khuyến cáo rằng, trong suốt thời gian mang thai, bạn cần có một chế độ dinh dưỡng cung cấp nhiều calo hơn bình thường, nhưng cũng không cần nhiều gấp đôi đâu. Ở quý  cuối cần tăng thêm khoảng 14% calo.

Điều gì làm nên sự khác biệt trong suốt thời gian mang thai?

- Khi mang thai, sự trao đổi chất của người mẹ tăng đáng kể và cơ thể cô ấy hấp thụ chất dinh dưỡng từ các bữa ăn hiệu quả hơn. Bởi vì sự giảm cường độ hoạt động ở phụ nữ mang thai khiến lượng calo dư thừa có xu hướng được hấp thụ nhiều hơn trong quá trình trao đổi chất.
Không nên ăn quá nhiều

- Quá nhiều năng lượng (từ thực phẩm) cần thiết cho những vận động của cơ thể sẽ khiến chúng tích tụ dưới dạng mỡ thừa. Những phụ nữ tăng cân quá nhiều trong thời kỳ mang thai có xu hướng sinh khó hơn và thường thì phải sinh mổ. Tiền sản giật, PIH (do thai nghén huyết áp) và tiểu đường khi mang thai là những căn bệnh khá phổ biến ở phụ nữ tăng khoảng từ 10 – 14 kg khi mang thai.

- Bị bệnh tiểu đường khi mang thai đồng thời sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 sau này. Với nhiều phụ nữ, tăng cân quá mức khi mang thairất dễ mắc các bệnh liên quan đến vấn đề về cân nặng. Tuy nhiên, nếu cho rằng việc hạn chế tối đa tăng lượng calo khi mang thai để dễ sinh nở hơn lại là một sai lầm lớn.Các em bé sinh thiếu tháng hoặc thiếu ký cũng phải đối mặt với các vấn đề về thể chất, trí tuệ và sự phát triển. Trong khi các em bé có mẹ không tăng đủ cân khi mang thai lại dễ mắc các bệnh tim mạch và tiểu đường khi trưởng thành.

Đừng sợ chất béo

- Axit Docosahexanoic (DHA) và axit Arachidonic  (AA) là hai loại chất béo quan trọng và cần thiết trong chế độ dinh dưỡng của bạn khi mang thai. Các axit béo này rất cần thiết cho sự phát triển thị lực và trí não của thai nhi. Cách tốt nhất để đảm bảo bạn được khỏe mạnh là bổ sung đủ lượng dầu cá cần thiết từ các loại cá như cá hồi, cá mòi và cá thu. Nếu bạn không ăn được cá, hãy tìm cách bổ sung dưỡng chất thay thế. Trong trường hợp này nên thảo luận trước với các chuyên gia tư vấn sức khỏe.

Tăng cường các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống khi mang thai

    + Thêm nhiều sắt, đặc biệt là sắt  từ động vật. Còn sắt  từ các loại rau, củ vốn không được cơ thể hấp thụ tốt nên phải dùng thật nhiều mới cung cấp đủ lượng cần thiết. Chỉ cần vài phần trăm sắt trong chế độ ăn uống cũng giúp cơ thể hấp thu tốt hơn từ thức ăn.

    Thêm Vitamin A, nhưng chỉ một lượng nhỏ thôi. Vì nếu dùng nhiều Vitamin A quá sẽ rất độc hại cho cơ thể và có khă năng gây tử vong. Một số chuyên gia khuyến cáo không nên ăn gan vì nó chứa nhiều Vitamin A. Rau và trái cây có màu vàng hoặc cam đều có hàm lượng Vitamin A cao như: cà rốt, bí đỏ và bí ngòi. Nên thận trọng vì ăn quá nhiều sẽ khiến da bị nổi vết, lúc đó trông bạn sẽ giống như vỏ cây sần sùi.

    Các vitamin nhóm B, sẽ giúp chăm sóc và duy trì sức khỏe tốt. Chúng hỗ trợ hệ thần kinh và não bộ hoạt động hiệu quả. Nguồn thực phẩm giàu Vitamin B tập trung ở các loại như ngũ cốc, mì nâu, chuối, các loại rau lá xanh và hạt. Ngoài ra còn có bơ và xoài.

    Vitamin C thường tan trong nước nên cũng dễ bài tiết theo đường nước tiểu. Cơ thể bạn và em bé không thể trữ được một lượng lớn để xài dần nên bạn phải bổ sung mỗi ngày. Vitamin C thì giúp cơ thể tránh bị nhiễm trùng, tăng cường hệ thống miễn dịch giúp hấp thu sắt trong bữa ăn và giúp các mô dễ lành hơn sau khi sinh. Nguồn thực phẩm cung cấp tốt như trái cây họ cam quýt, dâu, nước ép trái cây tươi, đu đủ, các loại rau họ cải như bông cải xanh và cải Brussel.

    Canxi và Vitamin D. Trong thức ăn hàng ngày, sữa và các sản phẩm từ đậu nành đều là những nguồn tốt, nên dùng từ 2 – 4 lần mỗi ngày. Phơi nắng mỗi ngày trước 10 giờ sáng và sau 4,5 giờ chiều cũng  có thể giúp bổ sung một lượng vitamin D cho cơ thể. Nếu bạn có làn da sạm đen, hoặc phải che phủ thường xuyên do nhưng quy định của tôn giáo hoặc văn hóa, bạn nên nói chuyện với nữ hộ sinh hoặc bác sĩ về sự cần thiết phải bổ sung dưỡng chất hàng ngày.

    Vitamin E là một loại có thể tan được trong chất béo, nghĩa là nó có thể tích lũy trong cơ thể của bạn. Chúng giúp bạn có đôi mắt và làn da khỏe mạnh, đồng thời giúp loại bỏ những hợp chất bị lão hóa. Khi mang thai, Vitamin E giúp phát triển hệ thần kinh và các cơ bắp của em bé. Các loại hạt, dầu thực vật như dầu oliu, các loại đậu và hạt giống là nguồn cung cấp vitamin E rất tốt.

    Protein (chất đạm) hỗ trợ cho sự phát triển của em bé. Thực phẩm giàu protein chủ yếu từ thịt và thịt gà, vốn là những động vật đi bộ nhiều. Nhu cầu về protein của bạn thậm chí tăng lên đến 15 – 20% ở thời gian mới mang thai, bởi sự phát triển mạnh mẽ các cơ, xương và các bộ phận của thai nhi. Để tăng 2 – 3 lần về chất lượng, hãydùng protein mỗi ngày.

    + I ốt, kẽm, maggie, đồng và crôm. Những chất này chỉ cần bổ sung một lượng nhỏ là đủ, và chúng cũng dễ tìm vì có sẵn trong các loại trái cây tươi, rau quả, các loại đậu, đậu hà lan và các loại hạt. Cố gắng ăn các loại thực phẩm tươi và nguyên gốc, hạn chế các loại đựng trong nhiều lớp bọc và các loại thực phẩm được làm từ nhiều thành phần khác nhau.

    Carbohydrates rất cần thiết để cung cấp năng lượng. Cả hai dạng Carbohydrates khác nhau đều quan trọng nhưng ở mức độ khác nhau. Loại Carbohydrates đơn giản là đường, bánh ngọt, bánh quy và cả những loại thức ăn bạn cảm thấy thèm khi có thai. Hãy nghĩ đến những tiệm bánh ở góc đường, sẽ có nhiều điều bổ ích cho bạn đấy! Loại Carbohydrates phức tạp hơn thường được để ở các kệ phía trên, đặc biệt là bánh mì ngũ cốc nguyên hạt và dạng cuốn. Gạo nâu, ngũ cốc nguyên hạt, bột mì, mì ống và khoai tây cũng là những nguồn nguyên liệu chất lượng cung cấp Carbohydrates, lại tốt cho việc ngăn ngừa táo bón.

    Nếu bạn ăn chay, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để đảm bảo bạn vẫn hấp thu đủ chất dinh dưỡng cần thiết khi mang thai. Bạn cần hấp thu đủ sắt và vitamin B12  để không bị thiếu máu. Đồng thời, bạn cũng phải đảm bảo lượng Protein và Canxi cần thiết.

Làm thế nào để tối đa hóa chất dinh dưỡng trong ăn uống

    Tuân thủ theo các hướng dẫn ở trên để đảm bảo bạn ăn uống đủ chất mỗi ngày.
    Hãy tự làm bữa trưa để mang đi làm. Việc này tuy có tốn thời gian nhưng cơm nhà tự nấu dù sao vẫn bổ dưỡng hơn đồ ăn bán ngoài quán. Tránh mang quá nhiều thức ăn nhanh về nhà và nhớ lập một danh sách trước khi bạn đi mua sắm. Hãy nghĩ về tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng khi mang thai, nó không chỉ vì bạn mà còn vì cho sự phát triển của con bạn nữa.

    Khi chuẩn bị trái cây hay rau quả để ăn, nhớ là phải bỏ vỏ và cắt thành miếng chỉ ngay trước khi cho vào miệng thôi. Vì các loại vitamin sẽ bị oxi hóa và tan vào không khí rất nhanh khi lớp vỏ bị cắt bỏ. Nhớ là mua khi chúng còn tươi từ những cửa hàng đông khách và có số lượng hàng lớn vì ở những nơi đó, thời gian lưu trữ hàng sẽ ngắn hơn bởi lưu lượng trao đổi hàng rất lớn.
    Nên nhớ, các sản phẩm tươi thường được đặt ở bên dưới hoặc cuối hàng. Các loại rau và trái cây nặng hơn thường chứa nhiều nước hơn và ngon hơn.

    Nếu bạn quá bận không đi mua thường xuyên được, hãy thử tham gia vào các hợp tác xã rau củ quả để có thể lấy trực tiếp sản phẩm từ những thị trường hoặc những gia đình cùng trong nhóm với bạn. Bạn cũng có thể mua từ nông dân hoặc mua trên mạng.

    Sử dụng ít nước để nấu ăn thôi, còn lại thì bạn có thể uống hoặc dùng cho món súp. Tránh để rau hoặc trái cây bị nấu trong thời gian quá dài vì chúng sẽ mất hết chất.

    Các loại thực phẩm đóng hộp, đông lạnh, sấy khô hoặc hầm kỹ chỉ nên sử dụng khi bạn không có sẵn các thực phẩm tươi, nhưng ít thôi.

    Mỗi màu của rau quả thể hiện tỉ lệ dưỡng chất khác nhau. Vì vậy hãy chuẩn bị nhiều loại khác nhau trong phần ăn của bạn. Nó không chỉ bắt mắt không đâu, mà còn cung cấp cho bạn một loạt các chất chống oxi hóa và cả những dưỡng chất cần thiết cho bạn và em bé.

    Tránh dùng vitamin hoặc các khoáng chất bổ sung trừ khi chúng được chỉ định cho bạn, chỉ trừ axit Folic. Nhiều loại dưỡng chất sẽ không được tích trữ trong cơ thể mà sẽ bị đẩy ra ngoài thông qua nước tiểu và phân.

Việc hấp thu kẽm có thể bị can thiệp khi bạn dùng bổ sung sắt. Do đó, nếu bạn đang uống thuốc sắt thì nhớ hạn chế ăn các thực phẩm giàu kẽm như thịt, chuối, hải sản và các loại hạt.
Xem chi tiết

Phương pháp chăm sóc bé từ trong bụng mẹ

Ngay từ trong thai kỳ, bà bầu hãy bổ sung các loại cá, rau, hoa quả và ngũ cốc vào thực đơn hàng ngày để chăm sóc tim bé một cách hoàn hảo nhất.

Thực phẩm nào là tốt cho sự phát triển tim của bé?

Dinh dưỡng hợp lý, lành mạnh đóng một vai trò thiết yếu, cực kỳ quan trọng cho sự hình thành, phát triển và duy trì hệ thống tim mạch của bé. Giống như người lớn, trẻ sơ sinh cần đủ lượng axit béo omega- 3, cùng với các vitamin, khoáng chất thiết yếu để cơ thể phát triển đúng cách.

Ngay từ thời điểm phát triển tim thai (chủ yếu trong ba tháng đầu tiên) của thai kỳ, người mẹ cần bổ sung nhiều chất dinh dưỡng cần thiết - chẳng hạn như canxi và phốt pho - có thể trợ giúp hình thành các mô của tim của bé. Để có kết quả tốt nhất, bà bầu cần nói chuyện với bác sĩ hoặc các chuyên viên dinh dưỡng về kế hoạch dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển của em bé nói chung và tim của bé nói riêng.

Kích thước của tim người trung bình tương đương to bằng bàn tay. Như sự phát triển hoàn toàn đều đặn, nhịp nhàng, cơ thể, trái tim và bàn tay của bé phát triển với tốc độ tương đối giống nhau, đó là kết luận của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Franklin. Tuy nhiên, bào thai trong bụng người mẹ có trái tim lớn hơn nhiều trong tam cá nguyệt đầu tiên và thứ hai. Sự hình thành, phát triển của tim bé phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng của người mẹ. Bác sĩ sản khoa thường khuyên phụ nữ mang thai nên tránh một số chất và thực phẩm sạch trong quá trình nhạy cảm này, chẳng hạn như cà phê, thức ăn mặn, đồ ăn chứa nhiều mỡ, dư thừa cholesterol.

Các lựa chọn thực phẩm lành mạnh

Phụ nữ mang thai có thể tiêu thụ một lượng vừa đủ các chất dinh dưỡng có lợi cho tim bằng cách tuân theo một chế độ ăn cân bằng giàu ngũ cốc nguyên hạt, rau lá xanh và thịt nạc. Canxi, đồng, phốt pho và thiamine là bốn chất dinh dưỡng quan trọng đối với sự phát triển của tim thai, đó là kết luận của nhóm bác sĩ thuộc trung tâm y khoa Hoa Kỳ.

Canxi và phốt pho có mặt trong sữa và các chế phẩm từ sữa. Ngoài sữa, bạn có thể tìm thấy những chất này trong hạt điều, đậu và thịt cua. Cuối cùng, thiamine là khoáng chất vô cùng cần thiết mà mẹ bầu cần bổ sung mỗi ngày.

Thiamin hay còn gọi là vitamin B1 được chiết xuất từ cám gạo. Nó giữ vai trò hàng đầu trong chức năng của hệ thần kinh trung ương và ngoại biên.

Thiamin dẫn truyền xung động thần kinh tại hệ thần kinh trung ương (não, tủy sống) cũng như hệ thần kinh ngoại biên (mạng lưới thần kinh nối liền hệ thần kinh trung ương với cơ và các nội tạng). Vai trò của B1 cũng rất quan trọng trong chức năng của cơ nói chung và tim nói riêng, cũng như đối với trí nhớ. Chúng có mặt trong yến mạch, đậu Hà Lan tách vỏ và hầu hết các sản phẩm thịt.

Ngay từ khi mang thai, bạn hãy cố gắng bổ sung những thực phẩm trên một cách đầy đủ, điều này rất có lợi cho sự phát triển hệ thống tim mạch của con bạn sau này.
Thực phẩm cần tránh

Để có được một sức khỏe tốt nhất, ngoài việc tăng lượng thức ăn lành mạnh cho tim, bà bầu cố gắng giảm số lượng thực phẩm không tốt cho sức khỏe của bản thân. Viện Franklin khuyến cáo bà bầu hạn chế lượng chất béo ít hơn 30% tổng giá trị calo của bạn mỗi ngày.

Ngoài ra, bà bầu cũng cần phải tránh những phụ gia thực phẩm và hóa chất, chẳng hạn như bột ngọt, tuy chưa xác định được rõ ràng song đây là loại phụ gia được khuyến cáo không nên sử dụng nhiều. Nếu có thể, bà mẹ nên dành thời gian trò chuyện với bác sĩ về những loại thực phẩm cụ thể và đồ uống không nên ăn trong giai đoạn này.

Lưu ý vàng chăm sóc tim cho bé từ trong bào thai 2
Cha mẹ có thể nghiền táo cho bé ăn. Táo chứa nhiều khoáng chất, vitamin như vitamin C, vitamin K, pectin. Chất xơ trong táo làm giảm cholesterol và loại bỏ chất độc trong cơ thể, chúng giúp bảo vệ động mạch. (Ảnh minh họa)

Thực phẩm bổ sung khi bé chào đời

Khi bé ra đời, trái tim của bé tiếp tục phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể bé. Để duy trì sự phát triển tim mạch một cách tốt nhất cho bé, phụ huynh cần chú ý tới chế độ ăn uống của bé. Tăng cường bổ sung cho bé các loại đậu, các loại hạt, ngũ cốc nguyên hạt, rau và trái cây. Ngoài ra, các axit béo omega- 3 được tìm thấy trong cá hồi, cá ngừ và hạt lanh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tim cho bé, chúng khiến tim bé được mạnh khỏe, hạn chế các bệnh liên quan tới tim mạch.

Cha mẹ có thể nghiền táo cho bé ăn. Táo chứa nhiều khoáng chất, vitamin như vitamin C, vitamin K, pectin. Chất xơ trong táo làm giảm cholesterol và loại bỏ chất độc trong cơ thể, chúng giúp bảo vệ động mạch.

Măng tây cũng là một thực phẩm mà mẹ có thể chế biến cho bé ăn. Trong măng tây chứa axit folic, vitamin A, vitamin nhóm B, C và K, mangan, chất xơ. Axit folic chứa trong đó giúp giảm hàm lượng homocysteine trong máu, một loại axit khi tồn tại với nồng độ cao có thể dẫn tới bệnh tim mạch.

Tỏi là một gia vị rất tốt cho sức khỏe tim mạch của bé. Chúng chứa nhiều mangan, vitamin B1, B6, C, phốt pho, selenium, canxi, sắt, đồng. Chúng có tác dụng giảm lượng cholesterol, hạ huyết áp và cải thiện tuần hoàn.

Chúc các bạn thành công!
Xem chi tiết

Mẹ mang bầu đã hiểu gì về canxi hóa bánh rau?


Canxi hóa bánh nhau còn được ghi trên kết quả siêu âm là 'xơ hóa bánh nhau'. Đây là hiện tượng lắng đọng canxi giữa bánh nhau và cơ tử cung.

Phần lớn trường hợp, đó là dấu hiệu trưởng thành của thai chứ không phải thai bị thoái hóa.
Hiện tượng canxi hóa bánh nhau là dấu hiệu bình thường trong suốt thai kỳ nhưng có thể nhìn thấy qua siêu âm ở khoảng thời gian cuối thai kỳ.

Tuổi thai càng lớn thì các đám canxi hóa càng nhiều. Trên siêu âm, bánh nhau sẽ được đánh giá mức độ canxi hóa với các cấp độ sau:
- Độ 0: tuổi thai khoảng 31 tuần (+/- 1 tuần).
- Độ 1: tuổi thai 34 tuần (+/- 3,2 tuần).
- Độ 2: tuổi thai 37,6 tuần (+/- 2,7 tuần).
- Độ 3: tuổi thai 38,4 tuần (+/- 2,2tuần).

Nếu thai dưới 33 tuần tuổi mà bị canxi hóa cấp độ 2 (hoặc 3) thì thai phụ cần đi khám thai thường xuyên. Có một số nghiên cứu cho thấy, bánh nhau canxi hóa mức độ 3 xuất hiện sớm có nguy cơ đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng trong bào thai. Khoảng 78% tình trạng suy dinh dưỡng, cao huyết áp và thai suy xảy ra nếu bánh nhau vôi hóa ở mức độ 3 trước 37 tuần.

Trường hợp thai 35 tuần có bánh nhau độ 1 là trong giới hạn bình thường.
Tránh lạm dụng canxi

Sự lạm dụng canxin sẽ khiến canxi bị lắng đọng ở bánh nhau, gây nên hiện tượng canxi hóa bánh nhau. Ngoài ra, dùng quá nhiều canxi có thể gây nên hiện tượng thừa canxi ở bé sơ sinh, với các biểu hiện: thóp kín quá sớm, xương hàm rộng và nhô ra, động mạch chủ bị thu hẹp. Nếu muốn bổ sung canxi, thai phụ cần tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Xem chi tiết

Top Hot